Trăm năm đường sá và xe cộ Cần Thơ
     
ĐƯỜNG SÁ

Đến cuối thế kỷ XIX, người dân đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), Cần Thơ vẫn còn đi lại chủ yếu bằng xuồng, ghe vì nơi đây nhiều sông, rạch; đường bộ rất hạn chế.Tổng đốc An Hà thời Minh Mạng (1820-1840): Doãn Uẩncó viết về vùng này trong tác phẩm Trấn Tây kỷ lược: "…ghe thuyền qua lại như thoi đưa" và "nhân dân thích ca vũ". Đường bộ xưa nhất có lẽ vào năm1792, chúa Nguyễn Ánh huy động dân phu và binh lính đắp đường Thiên Lý từ Gia Định dọc theo giồng cát xuống Trấn Định, Cai Lậy Cái Thia. Đường này có thể xem như quốc lộ thời bấy giờ.

Sau khi xâm chiếm Nam kỳ, thực dân Pháp bắt đầu đẩy mạnh khai thác thuộc địa.Muốn vận chuyển, khai thác lúa, gạo, sản vật thì phải có hệ thống giao thông thuỷ, bộ.

Đến năm 1913, hệ thống giao thông huyết mạch nối liền các tỉnh Nam kỳ được xây dựng cơ bản.Đường nội tỉnh ở Nam kỳ có thể kể:Bến Tre226km;Cần Thơ88km; Châu Đốc 125 km;Hà Tiên 16 km; Mỹ Tho 199 km;Vĩnh Long 108 km; Sóc Trăng 95 km…

Năm 1921, đường thuộc địa số 16, tiền thân của Quốc lộ 4 và Quốc lộ 1A sau này được xây dựng. Đường này dài 342km, bắt đầu từ Sài Gòn đến Tân An, qua Cai Lậy và kéo dài đến bắc Mỹ Thuận trên cơ sở các đoạn đường đã có của các tỉnh và nắn lại ở một số tuyến, nền đường rộng, trải đá kỹ. Số liệu thống kê đến năm 1925, tổng số km đường bộ được xây dựng ở Nam kỳ: 5.840 km; trong đó có 4.783 km đường rải đá, 312 km đường chưa rải đá và 745 km đường dự kiến làm.

Ở Cần Thơ, từ khi thành lập "hạt thanh tra" năm 1876 ở làng Tân An, các con đường nội ô dần được mở. Trước nhất, từ bến sông ban đầu mở dài ra thành đường mé sông: Route de Quai (đường Hai Bà Trưng). Đường này về sau được làm nối dài từ bến-cầu tàu lục tỉnh đến cầu Cái Răng; lót gạch rất khang trang.

Đường cầu tàu cây cao bóng mát

Đường Cần Thơ gạch lát dễ đi (Ca dao)

Con đường thứ hai được làm song song với đường mé sông khá qui mô là đại lộ Delanoue (BoulevardDelanoue-Phan Đình Phùng ngày nay). Trên đường này có nhiều công sở, công trình quan trọng: dinh tham biện, toà án, nhà việc làng Tân An, nhà in An Hà (nhà số 13), rạp hát bóng Casino, Trung Châu lữ quán…Rạp hát bóng Casino (sau đổi thành rạp Thanh Bình) do điền chủ Cao Văn Hùng xây dựng năm 1917. Trung Châu lữ quán (Restaurant de L'hotel central)- "kim thời nhứt miền Hậu Giang" do nhà tư sản Trần Đắt Nghĩa xây dựng năm 1931 tại số 18 đường Delanoue.

Sau đó, chính quyền tiến hành làm các con đường ngắn, nối giữa 2 đường lớn nói trên: đường Saintenoy (Ngô Quyền); Paul Bert (Nguyễn An Ninh); Galliénie (Nguyễn Thái Học)…Trên đường Galliénie, khoảng năm 1922, ông Trần Đắt Nghĩa xây dựng hãng xe Trần Đắt, nơi chuyên chở hành khách đi các tỉnh; mua bán xe, phụ tùng xe hơi… Cũng trên đường này, khoảng năm 1924, ông xây dựng rạp hát Trần Đắt (rạp Tây Đô) làm nơi diễn và "đại bản doanh" của gánh hát Trần Đắt ra đời vào năm 1926.
 
Đến năm 1931, chính quyền thực dân Pháp cho mở rộng đường Hàng Xoài (Đại lộ Hoà Bình) từ dinh chủ tỉnh đến đường Galliénie, sau đó mở thẳng đến Tham Tướng. Cũng trong năm này, người ta cho lấp con rạch trước Nhà thương lớn, mở rộng đường Paul Bert; "lấp cát con rạch dựa bên chợ Thới Bình chạy ra cầu bắc"- ngày nay là đường Trần Phú. Sau đó, làm Lộ Mới - Capitaine d'Hers (Xô Viết Nghệ Tỉnh) thẳng ra rạch Cái Khế. "Ngày 14/01/1931, đường vô Tham Tướng: dưới mé sông và trên lộ Hoà Bình đều có đèn điện thắp sáng".

Từ năm 1899, thực dân Pháp đã cho làm các con đường đất, sau đó rải đá nối nội ô ra các vùng phụ cận: Bình Thuỷ, Cái Răng, Phong Điền... Năm 1899, cầu sắt qua rạch Long Tuyền (cầu Bình Thuỷ) dài 140 m được hoàn thành; mặt cầu rộng cho 2 xe hơi có thể qua mặt nhau.

Lộ xe từ Cần Thơ đi Sóc Trăng, đi Long Xuyên, đi Vĩnh Long được đắp từ khoảng năm 1908 về sau.Thực dân Pháp dùng dân phu đi làm xâu và cu-li thuê mướn làm đường rất rẻ tiền.Lúc bấy giờ chưa có xehủ lô chạy máy nên dân phu phải thay phiên nhau đẩy “ống cán” để cán đá. Đá chở đến bến sông, dùng sức người để đẩy xe cút-kít trên đường ray bằng sắt đưa tới chỗ cán, rất hao tốn công sức. "Khi làm đường lộ, có cai và đội lục lộ trông coi, ai lười biếng thì bị rầy la, ai muốn trốn về nhà thì cứ lo hối lộ. Nhà nước phát chừng 4 cắc bạc mỗi ngày, nhưng tiền này thường bị ăn bớt".

Năm 1913, cầu sắt Cái Răng được bắc ngang rạch Cần Thơ dài 195 m có 3 nhịp; kinh phí 215.000 đ Đông Dương. Đến năm 1938, cầu Cái Răng được bắt thêm 2 nhịp, 1 nhịp gần giữa phía bờ An Bình có thể quay ngang để ghe, tàu lớn qua lại dễ dàng.

Sau khi đưa bắc Mỹ Thuận vào hoạt động năm 1914, năm 1916thực dân Pháp xây dựng xong bắc Cần Thơ. Ban đầu bắc Cần Thơ chạy bằng guồng do 8 công nhân đạp bằng chân, sau mới thay bằng máy hơi nước; sức chở chỉ vài chiếc xe hơi, xe ngựa… Mãi đến năm 1945, bắc Cần Thơ mới thay bằng 3 chiếc phà; mỗi chiếc có tải trọng khoảng 5 tấn.

Đến năm 1925, đường Ô Môn - Thới Lai; đường Phong Điền-Ô Môn mới đắp đất, làm cầu sắt.Ngày 12/10/1925, Hội đồng Địa hạt Cần Thơ có giấy đề xuất chính quyền sớm rải sỏi và tiến hành làm lộ từ Cái Vồn (Bình Minh) đi Trà Ôn.Đến ngày 11/01/1931 mới khánh thành con lộ này.
 
XE CỘ

Xe kéo

Nhiều người cho rằng loại xe này đã ra đời vào đầu thời Minh Trị tại Nhật Bản, khoảng năm 1869. Thời đó, những gia đình khá giả có thể mua một chiếc xe do người làm kéo đi những lúc cần di chuyển, thay vì phải đi bộ.
 
Xe kéo bánh cao su. Ảnh tư liệu
 
Xe kéo lần lượt xuất hiện tại các thành phố ở châu Á như Trung Quốc (1873), Singapore (1880), Việt Nam (1883)… Sau đó, xe kéo có mặt khắp Châu Á, nơi có dân số đông nhất thế giới và cũng là nơi phát triển kém hơn châu Âu, Mỹ.

Năm 1883, chiếc xe kéo, hay còn gọi là xe tay xuất hiện lần đầu tiên tại Hà Nội do Jean Thomas Raoul Bonnal,thống sứ người Pháp cho đem từ bên Nhật qua. Khoảng năm 1898, ở Sài Gòn mới có loại xe này, sau đó phổ biến đến các tỉnh, trong đó có Cần Thơ. Năm 1933, giá xe kéo tại Cần Thơ: "từ đại lộ Saintenoy đi Cầu Bắc: 1 cắc; đi Cái Răng: 5 cắc"

Cuộc cách mạng “bánh xe” đã phân chia thành hai loại khách sử dụng: loại bánh cao su dành cho giới quan chức thuộc địa và gia đình trong khi loại bánh sắt dành cho giới trung lưu người bản xứ.
 
Xe đạp

Lúc mới nhập cảng, khoảng đầu thế kỷ XX, người Việt gọi là "xe máy"- Có lẽ do nó được vận hành bằng các bộ phận máy móc: pê-đan, dĩa, dây sên, líp... Sau đó, do xe gắn máy (motocycle) được nhập vào nước ta, nên người dân gọi: xe đạp để phân biệt.
 
Ngược dòng lịch sử, năm 1817, người phát minh ra xeđạp: nam tước người Đức Baron Karl von Drais.Xe ban đầu làm bằng gỗ; bánh xe trước to hơn bánh sau, dùng để lái; người ta đẩy xe đi bằng hai chân chứ không có bàn đạp (pê-đan).Chiếc xetổ tiên của xe đạp mang tên là Draisienne (xe của Drais). 

Sau đó xe được cải tiến dần vào các năm: 1849- gắn pê-đan vào bánh trước; 1869- xe đạp được làm bằng thép; 1879- truyền động vào bánh sau bằng dây xích; 1887- cải tiến bánh xe bằng cao su…
 
Xe ngựa

Xe ngựa ngày xưa rất hiếm, chỉ có giới quan lại, người giàu có mới sử dụng. Người dân nghèo lúc này chủ yếu vẫn là dùng xe trâu, xe bò gắn bánh gỗ nguyên tấm. 

Sau năm 1881, thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác giao thông thủy, bộ. Người Pháp đưa vào nước ta xe song mã, kiểu dáng rất đẹp. Xe dùng hai ngựa kéo, mui kín chuyên chở khách, chuyển giấy tờ, bưu kiện; gọi là xe kiếng. Xe kiếng thuộc loại xe sang trọng, bánh cao su,chạy êm, giá cả mắc nên chỉ có lớp trung lưu trở lên sử dụng. 
 
Nông dân miền Đông Nam bộ tự mày mò chế tạo riêng cho mình một loại xe ngựa thô sơ. Xe được thiết kế chạy bằng 2 bánh gỗ, trên thùng có 1 ghế dài có lưng dựa, chỗ gát tay cho tối đa 4 người. Phía trước có treo cái đèn xe ngựa giống như đèn bão, gió thổi không tắt (sau đổi sang đèn khí đá).Loại phương tiện này rất được ưa chuộng vì giá rẻ.

Sau đó, họ còn làm ra xe ngựa mô phỏng theo kiểu xe song mã của người Pháp, gọi là xe thổ mộ.Có người giải thích thổ mộ là mả đất, vì xe có mui môlên ở giữa giống cái gò mả. Nhưng theo nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh, thổ mộ là cách đọc Việt hóa của từ “tục mã”, tức độc mã (một ngựa) tiếng Hoa; thổ mộ là xe được kéo bằng một con ngựa.

Xe gắn máy
 
Từchiếc xe đạp, xe ngựa, người phương Tây đã nghĩ đến việc đặt máy lên xe để thay thế sức người và sức ngựa.Động cơ đốt trong đầu tiên do kỹ sư Pháp Etienne Lenoir chế tạo năm 1860.Đến năm 1870 chiếc xe đạp được gắn động cơ hơi nước với nồi súp - de đốt bằng rượu cồn do kỹ sư người Pháp: Perrot sáng chế đầu tiên. Năm 1884, Edward Butler -người Anh sáng chế động cơ nổ 2 xy-lanh gắn lên xe 3 bánh.

Năm 1885, xe gắn máy đầu tiên trình diễn trước công chúng do người Đứcsáng chế: Gotthieb Daimler (1834 - 1900). Một trong những hiệu xe gắn máy đầu tiên được sản xuất đó là Daimler của Đức. Sau đó là Beeston và Holden của Anh vào năm 1897. 

Mãi đến đầu thế kỷ XX,xegắn máysau khi cải tiến nhiều lần mới được sử dụng phổ biến ở châu Âu và xuất cảng sang các nước khác. Nhiều tài liệu cho rằng một trong 3 chiếc xe gắn máy đầu tiên nhập vào Hà Nội năm 1903mang nhãn hiệu Herstal sản xuất tại Đứcgiá 100 đồng. Số xe gắn máy lúc này chỉ vài ba chiếc, nhà giàucó, bác sĩ hay kỹ sư... mới mua nổi.

Đến đăm 1929, tờ Hà thành Ngọ báo có tin vắn: "thầu khoán Nguyễn Văn Thịnh mua một chiếc xe hiệu Solex từ Pháp". Thời kỳ này, lương công chức khoảng 40 đồng/tháng; trong khi giá 1 chiếc Solex là 160 đồng.
 
Xe hơi

Người bình dân gọi: xe hơi vì ban đầu xe chạy bằng máy hơi nước. Xe hơi nhập vào Sài Gòn đầu tiên năm 1907. Chiếc xenhập vào thứ nhất mang số 1,chủ là một người Pháp. Chiếc số 2 là của thầy Năm Tú-Châu Văn Tú, chủ gánh hát ở Mỹ Tho.Tới chiếc số 7 và số 8 là của ông Nguyễn Minh Tho ở Gò Công. Kế đến số 10, số 11 và 12 là của ông Lê Phát Tân, em ruột ông Lê Phát Đạt biệt danh: "Huyện Sĩ", ông ngoại của hoàng hậu Nam Phương, vợ vua Bảo Đại.Xe hơi nhập vào Bắc kỳ, Trung kỳ năm 1913. Người sắm xe trước nhất là ông Bạch Thái Bưởi ở Hà Nội và ông Nguyễn Văn Đương ở Thanh Hóa.

Báo Phụ Nữ Tân Văn viết: xe hơi nhập vào Đông Dương trước tiên là hiệu Clément rồi mới tới các hãng: Peugeot, Comtal, Griffon,… Năm đầu xe hơi nhập vào bán được 14 xe;năm sau 60 xe. Sau Thế chiến lần thứ I, năm 1919, số xe hơi nhập vào Sài Gòn tăng vọt. Năm 1920 tại cả Bắc, Trung, Nam kỳ "tính chung bán được khoảng ba bốn trăm cái".

Ở Cần Thơ, chưa có tư liệu ai là người đầu tiên mua xe hơi nhưng trên báo An Hà số 200 ra ngày 03/02/1921 có rao "bán 1 chiếc xe hơi hiệu Dodge để đưa bộ hành, sức mạnh 12 ngựa, 10 chỗ ngồi giá 2.400đ" (Giá lúa lúc này 100 kg từ 3,30-3,45 đ).
 
VIỆC ĐI LẠI

Trước tiên là qui tắc đi đường, sau này gọi là luật giao thông. Những năm đầu thế kỷ XX, do mới tiếp xúc với xe cộ tân tiến, dân Cần Thơ còn đi lại khá tuỳ tiện, dễ gây tai nạn.

Báo An Hà số 274 và số 293 viết:

-"Ngày 23/7/1922 xe đò của ông Võ Hiếu Để số 2037 từ Cần Thơ đi Bạc Liêu đụng với xe đò số 973…"; "Ngày 08/11/1922 xe kiếng số 34 bị lật ở cầu lớn Cái Răng làm 3 hành khách trong xe bị u đầu, trầy mặt".

Để việc đi lại có nề nếp, ngày 15/3/1923, Thống đốc Nam kỳ ra Lời nghị:"Xe chở chuyên hàng vật, cùng là xe đưa bộ hành, chẳng hề khi nào chạy quá 40 kilomètres trong 1 giờ đồng hồ. Còn xe camion bánh đặc được phép chạy mỗi một giờ có 12 kilomètres mà thôi" (Điều 36).

Trong nội ô, bến xe và tuyến đường của xe khách được quy định:
"-Xe ngựa được chạy khắp thành phố, đậu tại đường Paul Bert bên trái ngó ra rạch Cần Thơ và muốn đậu chỗ nào khác thì chủ xe phải xin phép;

-Xe hơi chạy Cần Thơ-Cái Răng và ngược lại: Bận đi từ 6g-10g tại bến đường Sainternoy-Delanoue-Dinh xã Tây…

-Xe hơi đưa hành khách: Sài Gòn, Ô Môn, Long Xuyên, Châu Đốc, Nam Vang và xe cho mướn bến xe ở đại lộ Sainternoy và Gallieni.

Cấm xe đò chạy kiếm mối trong châu thành Cần Thơ" (Nghị định ngày 15/11/1926 của chủ tỉnh Cần Thơ).

Những năm từ 1925-1935, Cần Thơ có 3 tuyến đường xe ngựa: từ Bình Thuỷ, Phong Điền và Cái Răng vào nội ô thành phố. Sau năm 1935, bến xe ngựa dời về gần rạp hát Lido (ngã tư Lê Thánh Tôn-Tân Trào). Mãi đến năm 1955, xe ngựa mới dừng đưa khách vì các loại xe đò chèn ép: lấn đường, giành khách…

Kế đến là các dịch vụ phục vụ cho xe cộ, giao thông. Năm 1922, gagare-hãng xe đò Trần Đắt Nghĩa được thành lập. GagareTrần Đắt Nghĩa "sửa các thứ máy: xe hơi, tàu hơi, xe máy, máy may, máy viết chữ, máy nói…và có bán vỏ xe thượng hạng hiệu Pneu Bergounan". Sang năm 1923, gagare này có "bán 1 xe hơi hiệu Butck 6 máy, 7 chỗ ngồi giá 1.500đ". Trong khi đó giá 100 kg lúa lúc này tại cảng Sài Gòn: từ 4,9-5đ.

Nói về hãng xe đò Trần Đắt Nghĩa: Trước năm 1922, hành khách từ CầnThơ đi Rạch Giá phải mất 2 ngày theo lộ trình: đi tàu khách lên Long Xuyên, nghỉ đêm; sáng hôm sau đi tiếp tàu khách qua Rạch Giá.

Năm 1922, xe của hãng Trần Đắt khởi hành từ 5g30 ở Rạch Giá đến Cần Thơ lúc 10g; sau đó đi Mỹ Tho và đến Sài Gòn lúc 4g chiều. Xe có 23 chỗ ngồi, trong đó có 10 chỗ hạng nhứt dành cho "viên quan, giới chức cùng quí bà, quí cô sang trọng".
 
Xe đò đưa - Ảnh tư liệu
 
Đến năm 1924, đã có 14 tuyến xe khách từ Cần Thơ đi Sài Gòn và các tỉnh; trong đó hãng xe Trần Đắt chạy 8tuyến. Giá vé cao nhất: Rạch Giá-Sài Gòn 6 đ; thấp nhất: Cần Thơ - Vĩnh Long 1đ; năm 1923 chuyên chở được 89.320 lượt hành khách, thu phí thư tín được 16.600 đ. Tỉnh Vĩnh Long có 6 tuyến xe khách, năm 1923 vận chuyển 56.000lượt hành khách.
 
**

Sau gần 100 năm, đường xá, phương tiện giao thông ở Cần Thơ đã trải qua một chặng đường dài phát triển. Tính đến nay, toàn thành phố đã có khoảng 2.800 km đường, trong đó có 123 km quốc lộ, 183 km tỉnh lộ, 153 km đường đô thị, gần 250 đường nội thị được đặt tên và 4 bến xe khách. Chỉ riêng xe gắn máy, toàn thành phố đã có trên 600 ngàn chiếc, số phương tiện giao thông đăng ký mới trên 50 ngàn chiếc/năm… 

"Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo…". Đô thị hoá, hiện đại hoá đang dần đưa một thời xe ngựa thô sơ, truyền thống vào quên lãng. Cần sớm có bộ sưu tập, lưu giữ những kỷ vật, hình ảnh về việc đi lại xưa để làm tư liệu, giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau và phục vụ khách tham quan, du lịch./.
 
Tài liệu tham khảo

1.An Hà báo số 200-834, ra từ năm 1921-1933
2.BáoPhụ Nữ Tân Văn số 207 ngày 06/7/1933
3.Hoàng Thị Thu Hiền, 2013, Nam bộ – Đất và Người (tập IX), Hội Khoa học Lịch sử TP. Hồ Chí Minh, Nxb Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh.
4.Ernest Outrey, 1913, Tân thơ tổng lý qui điều - Trần Văn Sớm dịch - Saigon, Imprimerie commerciale C.Ardin.
5.Nhâm Hùng, 2013, Ninh Kiều điểm nhấn Tây Đô, Nxb Trẻ.
6.SơnNam, 1992, Văn minh miệt vườn, Nxb Văn hoá
 
Thái Ngọc Anh